2.6.
Nguyên Lăng - lăng
vua Trần
Nghệ Tông
Nguyên Lăng là lăng vua Trần Nghệ Tông, đây là
lăng tẩm cuối cùng được xây dựng ở An Sinh.
Vua Trần Nghệ Tông
tên húy là Phủ, sinh năm
Tân Dậu (1321), là con thứ ba của vua
Trần
Minh Tông. Trước khi làm vua, ông được phong tước Cung Định vương, khi Dương Nhật Lễ tiếm ngôi,
ông đứng đầu hàng tôn thất, cầm quân tiến về Thăng Long, giành lại
ngôi báu (năm 1370), ở ngôi 3 năm (1370 - 1372), sau nhường ngôi cho em là Trần Kính – tức Trần Duệ Tông. Mặc dù được coi là người có công lấy lại ngôi báu từ tay của Dương Nhật Lễ nhưng
với tính cách nhu nhược và thiếu bản lĩnh, vua Trần Nghệ Tông đã
để quyền lực triều chính
dần rơi vào tay của Hồ Quý Ly, biên cương bờ cõi bị Chăm-pa
quấy phá, kinh đô
Thăng Long nhiều lần rơi vào tay giặc. Do đó, ông là
người phải gánh vác trách nhiệm về sự suy yếu dẫn đến sự diệt vong của triều
đại nhà Trần.
Sách Đại Việt sử
ký toàn
thư chép: “Giáp Tuất (1394) năm
(Quang Thái) thứ 7,… Tháng
12, ngày
15, Thượng hoàng băng,
táng tại
Nguyên lăng Yên Sinh, miếu hiệu
là Nghệ
Tông, thụy là Quang Ng-
hiêu
Anh Triết Hoàng đế”.
Trần triều bi ký chép: “Nghệ Tông Hoàng đế, mất
ngày 15
tháng 12 năm Kỷ Dậu,
táng tại
lăng xứ
Đồng Hỷ, tục gọi là Chiêu lăng”40.
Sách Đại Nam nhất thống
chí đã có một số nhầm
lẫn khi
cho rằng
“lăng
Đồng Hy(Hỷ):
lăng Trần Nghệ Tông và Trần Thuận Tông, ở núi Ngọc Thanh xã
Đạm Thủy, huyện
Đông Triều”. Sở
dĩ có
sự nhầm lẫn này là bởi năm 1377 vua Trần Nghệ
Tông có cho xây dựng tại núi Ngọc
Thanh
một khu lăng nhưng lăng
đó không
phải là
lăng tẩm
của ông
mà là để chiêu hồn vua Trần Duệ Tông - người đã bị tử trận
tại thành
Đồ Bàn
(Vijaya) khi
đem quân
đi đánh Chăm-pa. Trong khi cho rằng lăng ở núi Ngọc Thanh
là lăng của vua Trần Nghệ Tông, Đại Nam nhất
thống chí lại hoàn toàn
không nhắc đến vua Trần Duệ Tông. Cũng chính sự nhầm lẫn của Đại Nam nhất thống chí này mà có nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng Hy lăng ở Núi Ngọc Thanh là lăng vua Trần Nghệ Tông. Vậy sự thật như thế nào?
Sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ cho biết Nguyên
lăng ở xã Đốc Trại, tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
Năm Minh Mạng thứ 21
(1840) vua Minh Mạng đã
cho dựng bia ghi nhớ vị trí lăng tẩm của các vua nhà Trần tại An Sinh,
trong đó có Nguyên lăng.
Nội dung
của bia cũng được ghi lại trong sách Trần Triều thánh tổ các xứ địa đồ “明 命 弍 拾 弌 年 玖 月 初 陸 日
奉 陳 藝 宗 皇 帝 陵 勅 造”(Minh Mạng nhị thập nhất niên,
cửu nguyệt,
sơ lục
nhật phụng
sắc tạo,
Nghệ Tông hoàng đế lăng). Nghĩa là: Ngày mồng 6 tháng
9 năm Minh Mệnh thứ 21
(1840), phụng sắc tạo (bia) lăng hoàng đế Nghệ Tông 41.
Tại khu vực xã Đốc Trại xưa, nay thuộc xã An Sinh, trong khu vực Khe Nghệ thôn Bãi Dài, xã An Sinh có dấu tích lăng.
Tại
đây còn lại dấu vết tấm bia
đá dựng
năm Minh
Mạng thứ
21 (1840)
đã được
sách Trần triều thánh
tổ các
xứ địa
đồ ghi chép lại.
Điều đó chứng minh, Nguyên lăng
– lăng của vua Trần Nghệ Tông được xây dựng tại địa điểm nay thuộc khu Khe Nghệ, thôn Bãi Dài, xã An Sinh, huyện Đông Triều, Quảng Ninh.
Cũng giống như các lăng tẩm khác, Nguyên lăng đã
bị phá hủy do sự khắc nghiệt của thời gian và những
biến động của lịch
sử. Khoảng những năm 80
của thế kỷ 20, lăng bị một số người săn tìm của cải đào phá để tìm của. Theo mô tả của người dân, khi đào, người ta đã làm bật lên rất nhiều những khúc gỗ lớn, than tro và vôi. Năm
2012, để nghiên cứu và
làm rõ cấu trúc của
Nguyên lăng, Ban Quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh và Trung tâm
Nghiên cứu Kinh thành đã
khai quật và nghiên
cứu khảo cổ học tại
đây.
Kết quả khai quật, nghiên
cứu đã tìm thấy huyệt mộ, huyệt đạo
(đường dẫn vào
huyệt) và Chính
Tẩm, trong đó huyệt rộng 5x5,50m, sâu khoảng 4,0m.
Huyệt đạo ở phía Nam, dài 4,50m;
rộng 3,10m; phần đầu phía
Nam có bậc dẫn xuống,
phần phía Bắc
phẳng.
Qua mô tả của
người dân về việc đào
phá lăng trước đây cộng với
những dấu vết còn lại
khi khai quật cho phép suy đoán, cấu trúc hầm mộ của Nguyên lăng giống như cấu trúc
hầm mộ đã phát hiện
tại mộ Nghĩa Hưng (An Sinh), tức là quan tài được đặt trong hai lớp quách hình cũi, quách được xếp bằng các khúc
gỗ nguyên khối,
được bao phủ
bằng các loại
hợp chất nhẹ, có mùi
thơm, đốt cháy, ngoài
cùng được phủ bằng một lớp
than củi và vôi bột
dày trung bình 50- 60cm, giữa hai lớp quách
cũng được đổ đầy các
loại hợp chất nhằm tạo môi
trường vô sinh trong hầm
mộ vừa để bảo vệ di cốt
vừa để bảo vệ quan
quách.
Dấu vết còn lại ở trên mặt lăng cho thấy, lăng có cấu
trúc hết sức đơn giản, không có Thần đạo quy mô như ở Thái lăng hay lăng
Tư
Phúc; sân Hành lễ hết sức đơn giản và đặc biệt là khu Tẩm điện chỉ gồm một
kiến trúc nhỏ có vai trò như là Chính Tẩm. Dấu vết còn lại cho thấy Chính
Tẩm
có mặt bằng hình vuông
(7,70x7,70m), mái lợp
ngói mũi sen.
Việc Nguyên
lăng có quy mô nhỏ,
kiến trúc đơn giản
hơn rất nhiều so với lăng của các vua
Trần khác là
việc có thể lý giải
được bởi: trong số các
lăng xây dựng ở An Sinh thì Nguyên lăng là lăng cuối cùng của
nhà Trần được xây dựng (1394). Lăng được xây dựng trong bối cảnh triều chính nhà
Trần đã đạt đến đỉnh điểm của sự suy thoái, quyền lực hầu như đã nằm
trong tay của Hồ Quý Ly, trong khi xã hội thì rối loạn, giặc giã thì ngấp nghé bờ cõi; kinh tế cũng rơi đến đáy của
sự suy
thoái, vv... Nói
cách khác, mọi nguồn lực
cho việc xây dựng
lăng tẩm đều đã cạn
kiệt. Có lẽ vì những
lý do đó mà khi dời thần vị của các vua từ Tam Đường
về An Sinh ông chỉ cho xây dựng lăng Tư Phúc để thờ chung các vị tiên đế thay vì xây cho mỗi vị một
lăng tẩm riêng biệt. Còn đối với riêng mình, ông cũng đã không
đòi hỏi phải xây dựng
lăng tẩm của mình một
cách quy mô,
lộng lẫy như
các vua trước.
Bên cạnh các di tích, di vật thời Trần, tại Nguyên
lăng cũng đã tìm
thấy một số đồ gốm
của thời Lê Trung hưng. Sắc lệnh của chúa
Trịnh được khắc lại
trong các bia ký dựng tại đền An Sinh. Thần tích, thần sắc
của các xã (làng) An Sinh, Đốc Trại cũng cho thấy,
ngay cả khi các công
trình kiến trúc tại Nguyên
lăng đã bị phá hủy thì triều đình
Trung ương vẫn giao cho địa phương có trách nhiệm trông nom, thờ phụng lăng
của vua Trần Nghệ Tông. Hàng năm triều đình đều có cho
người kiểm tra
việc trông nom và thờ
phụng này.
 |
Bản vẽ phục dựng cấu trúc quan, quách của Nguyên lăng. Người vẽ: Lê Đình Ngọc |
 |
Toàn cảnh khu vực Hy lăng trên núi Đạm Thủy. Ảnh: Nguyễn Văn Anh |
2.7.
Hy lăng - lăng vua Trần
Duệ Tông
Hy lăng là lăng của vua Trần Duệ Tông,
được xây dựng trên núi Đạm Thủy, gần quán Ngọc Thanh. Quán Ngọc Thanh là một trong những quán đạo nổi
tiếng nhất thời Lý, Trần, một thắng cảnh nổi tiếng của
xứ Đông. Năm 1399, vua Trần Thuận Tông đã tu đạo
tại Ngọc Thanh quán, sau khi bị Hồ Quý Ly buộc phải nhường ngôi cho con mình là hoàng tử
Án. Hồ Quý Ly bắt vua Trần Thuận Tông xuất gia theo đạo ở quán
Ngọc Thanh nhưng thực chất là giam lỏng vua, sau đó sai người bức tử nhà vua tại Ngọc Thanh.
Đầu thời Lê (thế kỷ XV), quán Ngọc Thanh vẫn là một chốn thanh u với những công
trình kiến trúc tựa núi, ẩn hiện dưới bóng tùng làm cảnh sắc nơi đây càng trở lên thanh vắng khiến cho du khách đến thăm
không giấu nổi cảm xúc, một trong
những du khách như thế đó là Nguyễn
Trãi
(1380 - 1442). Trong một lần thăm lại Ngọc
Thanh, xúc động trước cảnh và
người nơi đây Nguyễn Trãi đã làm bài thơ nổi tiếng “Đề quán Ngọc Thanh”.
Đề quán Ngọc Thanh42
Lâu
đài tía dựa non cao
Chiều nay nhớ lại chuyến nào mười năm
Kim đàn
đầy rụng hoa thông
Rung mây tiếng khánh viễn thâm đạo tràng
Người
tiên rời khỏi đĩnh vàng
Tiếc khi tỉnh mộng hoàng lương khó tìm
Vượn sầu hạc oán bao niềm
Lao
xao tiếng trúc rừng bên lạnh lùng.
Hy lăng là lăng tưởng niệm của vua Trần Duệ Tông.
Vua Trần Duệ Tông là vua thứ 9 của nhà Trần,
tên húy là Trần Kính, là con thứ 11 của vua Trần Minh
Tông, là em của ba vị vua: Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông và Trần Nghệ Tông.
Ông sinh ngày 2 tháng 6
năm Đinh Sửu (1337); năm 1372 được vua anh là Trần Nghệ Tông nhường ngôi, ở ngôi 6 năm, ngày 24
tháng 1 năm Đinh Tỵ (1377) tử trận tại thành Đồ Bàn
(Vijaya), thọ 41 tuổi.
Vua Trần Duệ Tông là vị vua có cá tính mạnh
mẽ, mang hoài bão chấn hưng quốc gia. Năm 1369, Trần Dụ Tông mất, truyền ngôi cho Dương Nhật Lễ,
Nhật Lễ làm vua nhưng bỏ bê công việc, ham chơi, rượu chè lại định đổi họ Trần sang họ Dương khiến
các quan trong triều bất bình. Trước tình hình đó ông
cùng với các tôn thất nhà Trần khác đã giúp Trần Phủ
(Cung Túc vương, tức vua
Trần
Nghệ Tông) thực hiện đảo chính
lật đổ và giết chết Dương Nhật Lễ, đưa Trần Phủ lên ngôi, phục hưng lại nhà Trần. Năm 1372,
sau khi được vua anh Trần Nghệ Tông nhường
ngôi, ông để tâm lo toan việc trị nước, kén tướng luyện quân, đặt khoa thi, lấy
người tài, đồng thời chú trọng đề cao ý thức dân tộc, bảo vệ thuần phong mỹ
tục, biểu hiện ý thức tự lập, tự cường. Để làm được điều đó, ông lệnh cho quân
dân không được mặc áo kiểu người phương Bắc, không bắt chước tiếng nói của các nước Chiêm (Chăm-pa), quy định về mẫu mã các
loại thuyền, xe, kiệu, tán, nghi, trượng
và y phục.
Vào cuối thời Trần, lợi dụng tình hình Đại
Việt suy yếu,
quân Chăm-pa thường
xuyên đem quân quấy phá vùng biên giới, thậm chí nhiều
lần đánh chiếm Thăng Long. Vì quá nôn nóng trong việc tiêu
diệt họa xâm lấn của Chăm-pa,
Trần
Duệ Tông đã thân chinh
đi đánh Chăm-pa.
Tháng Giêng năm 1377 khi cầm quân tiến vào thành Đồ Bàn (Vijaya) ông bị mắc kế phục binh của Chế
Bồng Nga mà tử nạn tại thành Đồ Bàn (Bình Định). Cái chết của Duệ Tông là bước
ngoặt lớn đối với nhà Trần thời hậu kỳ, Thượng hoàng Nghệ Tông nhu nhược, vốn hoàn toàn dựa vào ông nên khi ông mất đã hoàn toàn dựa
vào Hồ Quý Ly, thế nước Đại
Việt
suy kém, quân Chăm-pa tự do
hoành hành, tàn phá kinh đô Thăng Long. Cơ nghiệp
nhà Trần
từ đây suy sụp.
 |
Quán Ngọc Thanh, công trình mới được xây dựng lại. Ảnh: Nguyễn Văn Anh |
Năm 1377, Thượng hoàng Trần Nghệ Tông thấy
ông vì nước mà bỏ mình nên cho xây dựng Hy lăng
trên núi Đạm Thủy, chiêu hồn về thờ cúng tại Hy lăng và
cho lập con trưởng của ông là Kiến Đức đại vương nối nghiệp nhà Trần,
tức là Trần Phế Đế.
Tương truyền, năm 1399, sau khi
bị Phạm Khả Vĩnh bức tử, vua
Trần Thuận Tông cũng được táng tại Hy lăng.
Núi Đạm Thủy nay thuộc thôn Đạm Thủy, xã Thủy
An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Quán Ngọc Thanh xây dựng trên núi Đạm Thủy
vì vậy núi còn được gọi là núi Ngọc
Thanh.
Trên núi Đạm
Thủy
ngoài dấu vết của chùa - quán Ngọc Thanh ở phía sườn phía Tây Nam, tại khu vực
sườn phía Đông Bắc, nơi
tiếp giáp với Trường Trung học cơ sở Thủy An hiện còn thấy
nhiều chân tảng chạm
khắc hoa sen cùng rất
nhiều loại gạch ngói khác nhau của thời
Trần. Đây có thể là những dấu tích còn lại của Hy lăng.
 |
Dấu vết huyệt mộ, huyệt đạo của mộ thời Trần ở thôn Nghĩa Hưng. Ảnh: Lê Đình Ngọc |
Chương 3. GIÁ TRỊ
LỊCH SỬ, VĂN HÓA CỦA QUẦN
THỂ DI TÍCH LĂNG TẨM NHÀ
TRẦN Ở ĐÔNG TRIỀU
An Sinh xưa, Đông Triều ngày nay là nơi tổ tiên nhà Trần đã sinh sống trước khi dời xuống vùng hạ
lưu sông Hồng thuộc khu vực Tức Mặc - Long Hưng, tại Tức Mặc – Long Hưng nhà Trần có được thiên hạ. Vì thế nên nói đất An Sinh là quê gốc và Tức Mặc –
Long Hưng là đất phát tích của nhà Trần.
Khi nhà Trần có được thiên hạ, nhất là từ khi
vùng đất An Sinh được giao cho An Sinh Vương
Trần
Liễu cai quản, An
Sinh Vương cùng triều đình nhà Trần đã xây dựng nhiều công trình như phủ đệ, đền miếu tại An Sinh.
An Sinh vốn đã là trung tâm Phật
giáo với những
chùa tháp nổi tiếng như Yên Tử, Quỳnh Lâm,… là nơi nhiều vị Quốc sư
tu hành đắc đạo. Đặc biệt An Sinh là nơi các vua Trần lựa chọn để
xây dựng lăng tẩm của mình. Năm 1381, nhà Trần cho chuyển
Thần vị của các lăng ở
Tam
Đường về thờ tại lăng Tư Phúc, An Sinh trở thành nơi tập trung lăng tẩm của nhà
Trần. Với một hệ thống các công trình kiến trúc chùa tháp, lăng tẩm,
đền miếu và phủ đệ như vậy An Sinh xưa, Đông Triều nay được đánh
giá là một trong ba trung tâm văn hóa của thời Trần,
trong đó nét nổi trội và tiêu biểu nhất của trung tâm văn hóa An Sinh - Đông Triều là: văn hóa, tín ngưỡng
và tâm linh.
Quần thể di tích lăng tẩm các vua Trần ở An Sinh gồm bảy lăng, đây là nơi thờ
phụng và an nghỉ của tám vị vua, một vị hoàng hậu và có thể còn nhiều quý
tộc nhà Trần khác mà đến nay chúng ta chưa
được biết đến. Việc lựa chọn An Sinh là nơi xây dựng lăng tẩm của các vua Trần
không chỉ phản ánh đây là vùng đất linh thiêng mà nó còn thể hiện tư tưởng “lá
rụng về cội” của các vua nhà Trần.
- Mặc dù các lăng tẩm nay chỉ
còn là phế tích song những gì còn lại đã cho thấy mỗi lăng tẩm là một tác phẩm
nghệ thuật đa sắc màu, nhìn vào đó người ta có thể cảm nhận được nghệ thuật
kiến trúc và điêu
khắc hoàng gia thời Trần, nó cũng cho mỗi người hôm nay hiểu được quan niệm về sự
sống và cái chết của tầng lớp tinh hoa nhà Trần cách đây hơn 700 năm như thế nào, từ đó hiểu được thế ứng xử giữa sự sống và
cái chết, hiểu đầy đủ hơn câu thành ngữ “sống vì
mồ vì mả, ai sống bằng cả bát cơm”.
Cùng với hệ thống di tích
chùa tháp, đền miếu, quần thể di tích lăng tẩm nhà Trần ở Đông
Triều đã khẳng định thêm An Sinh xưa, Đông Triều nay là một
trung tâm văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo lớn nhất của nhà Trần
thế kỷ XIII-XIV.
Trải qua thời gian và những biến thiên của lịch sử, sự khắc
nghiệt của thời tiết, các lăng tẩm ở đây nay chỉ còn là phế tích. Các phế tích
lăng tẩm đã và đang được khai quật, nghiên cứu khảo cổ học, kết
quả nghiên cứu đã cung cấp những cơ sở khoa học cho việc bảo tồn, trùng tu và
phát huy giá trị của di tích. Những kết quả này chắc chắn sẽ góp phần dựng lại
diện mạo quần thể của từng lăng tẩm nói riêng và quần thể lăng tẩm của nhà Trần tại An Sinh nói chung,
để giữ gìn đạo hiếu “uống nước nhớ nguồn” của con cháu và là nơi tụ hội của khách
hành hương từ bốn bể.
Nguyễn Văn Anh
-----------------------------------------
39. Trần triều bi ký đã có sự nhầm lẫn khi chép lăng của vua Trần Nghệ Tông là Hy Lăng hoặc Đồng Hỷ lăng vì Chiêu lăng đã được dùng để đặt tên lăng cho lăng của vua Trần Thái Tông ở Tam Đường. Dùng tên lăng của các vua trước đặt tên lăng của vua sau là việc làm hoàn toàn bị cấm.
39. Bản dịch của Lê Cao Phan. Nguồn www.thivien.net
41.
Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ. Sđd, tờ.9b.
TIN, BÀI LIÊN QUAN: