Tạp chí Hán Nôm >> TCHN từ 2006 về sau >> Chủ đề >> Sưu tầm - Tài liệu tham khảo
Thích Minh Tín
Đình nguyên Thám hoa Vũ Thạnh và văn bia chùa Đại Minh (Tạp chí Hán Nôm, Số 6 (109) 2011, Tr.69-78)

Cập nhật lúc 14h57, ngày 13/11/2013

ĐÌNH NGUYÊN THÁM HOA VŨ THẠNH VÀ
VĂN BIA CHÙA ĐẠI MINH

THÍCH MINH TÍN

Trường Trung cấp Phật học Hà Nội

Chùa Đại Minh ở thôn Duyên Trường, xã Duyên Thái huyện Thường Tín, Hà Nội. Đây là một ngôi chùa cổ lâu đời. Theo thông tin từ các vị cao niên và căn cứ tên chùa thì có lẽ chùa được xây dựng từ thời thuộc Minh. Trên chuông đồng tại chùa có ghi lời nhận định: 吾延長賀泰二社有寺曰大明其祀於胡末之屬于明乎/Hai xã Diên Trường Hạ Thái ta có ngôi chùa là Đại Minh. Có lẽ chùa từ cuối đời nhà Hồ xây dựng thời thuộc Minh chăng!(1). Trải qua mưa nắng lâu ngày, chùa đã qua nhiều lần trùng tu khởi tạo. Trong quá trình điền dã tại địa phương, chúng tôi phát hiện tại chùa còn lưu giữ một văn bia do Đình nguyên Thám hoa triều Lê là Vũ Thạnh soạn.

Vũ Thạnh(1664 - ?), tự là Phác Phủ 仆甫người làng Đan Loan, huyện Đường An, trấn Hải Dương (nay là huyn Bình Giang, tỉnh Hi Dương). Theo văn bia tại chùa Đại Minh, ông còn có hiệu là Đoan Phủ端甫. Ông xuất thân là con nhà nghèo, sau lưu lạc đến ở khu vực chùa Báo Thiên trong kinh thành Thăng Long(2).Từ thuở nhỏông đã theo thờ Tiến sĩ Vũ Công Đạo(3) làm thầy. Đến năm t Su (1685) niên hiệu Chính Hòa thứ 6 đời Lê Hy Tông, đỗ Đình nguyên Thám hoa lúc mới 23 tuổi. Ông làm quan, lần lượt giữ các chức vụ quan trọng như: Hồng lô Tự khanh, Thiêm đô Ngự sử, Bồi tụng.

Sau vì ông đem việc các quan hoạn hay cầu cạnh, xin xỏ trong việc kiện tụng ra nói ở phủ Tiết chế, chúa cả giận giao triều đình luận bàn, rồi cho bãi chức ông vì tội gièm pha. Ông về mở trường dạy học tại nhà ở làng Hào Nam (nay thuộc quận Đng Đa, Hà Ni). Sau này làng Hào Nam suy tôn ông làm Thành hoàng làng. Một thời gian sau, ông được khởi phục, làm đến chức Tự khanh.

Theo sử sách: Vũ Thạnh là người ưa thực nghiệp, ghét hư văn, ra sức cải cách văn phong. Nghe tiếng ông, hàng ngàn học trò xa gần đến thụ nghiệp ở trường ông, ềnhiều người đỗ đại khoa, có nhiều người làm quan có danh tiếng.

Vũ Thạnh mất năm nào không rõ, được triều đình truy tặng chức Tham chính. Con ông là Tiến sĩ Vũ Huy, cũng đậu Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1712) niên
hiệu Vĩnh Thịnh thứ 8, làm quan đến chức Hữu Thị lang.

Hiện nay đường vào khu tập thể Hào Nam (qun Đng Đa, Hà Ni), nơi ông dạy học xưa kia được gắn biển phố mang tên ông. Tác phẩm của Vũ Thạnh có Hào Nam văn tập 豪南文集(nay đã bị thất lạc) và một số văn bia. Hiện trong Toàn Vit thi lc 全越詩錄còn lưu lại 24 bài thơ viết bằng ch Hán của ông(4). Qua những vần thơ ấy, người ta biết ông là “một trí thức ước mong một cuộc sống thanh cao, nhàn dật trong cảnh điền viên. Cũng có lúc than thở về nhân tình thế thái, nhưng giữ thái độ an bần lạc đạo, giữ vẹn tình nghĩa ở đời. Lời thơ tao nhã, chân thực, ít gò bó, có phong vị dân tộc”(5).

Tư liệu về danh nhân Vũ Thạnh hiện còn trong tình trạng tản mát, thất lạc. Việc sưu tầm các thơ văn trước tác của ông là một việc làm có ý nghĩa, nhân chuyến đi công tác của mình chúng tôi sưu tầm thác bản và giới thiệu dịch nghĩa tấm bia này, góp phần sưu tầm, bổ sung tư liệu để tìm hiểu sâu sắc hơn về thân thế cuộc đời, và sự nghiệp thơ văn của nhà khoa bảng Vũ Thạnh, nhà giáo, danh nhân thời Lê Trung hưng.

Nguyên văn tấm bia 2 mặt:

大明寺

Mặt 1.

,, !

, 縣青 . . , . . . , . . . , . , . , , 殿, . , 殿 ,. , , 蠢眾 . 使. . 滿 . 之場, . , .:人言

, ! . 保請 . , , . , , . . . 常或 . , , . ! .

,

.

,

.

,

殿.

,

.

,

.

,

.

,

.

,

.

,

.

, , , ,

Mặt 2

,

,

,

, , , ,

,

,

祿, .

, ,

調, ,

,

,

, , ,

, ,

. . 殿

西 , , , , .

分常綿綿.

阮貴

Dịch nghĩa:

Mặt 1:

CHÙA ĐẠI MINH TỰ

Bài Tựa và bài Minh bia Hậu Phật chùa Đại Minh ở hai xã Duyên Trường, Hạ Thái huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, đạo Sơn Nam.

Nói rằng, ôi, người có công đức với dân ắt hưởng được báo đáp của dân, mà kẻ mang ơn của người có thể không biết truy ân và phụng tự người hay sao! Kính rằng có bà Thị nội cung tần trong chính phủ thời thánh triều ta là bà Trần Thị Đề hiệu Diệu Đề, người trong xã, ở huyện Thanh Trì. Sinh ra được vẻ đẹp tú lệ, cốt cách tiên nhân, đức xứng phật tử .

Tuổi cập vời tuyển vào hầu cận bên vua, được sủng ái bậc nhất tiêu phòng(6). Sinh con hiếu như điềm hiện móng lân(7), có đức trung như Đông Bình đời Hán(8). Tuổi cao lại phát bồ - đề tâm(9). Lòng hoan lạc vui chơi miền Thứu lĩnh(10). Hạnh từ bi noi Quan Thế(11) nhà Phật. Gặp được sư trụ trì giáo hóa. Rằng chùa Đại Minhcổ tích danh lam của hai xã (Duyên Trường, Hạ Thái). Nay đội phong sương đã lâu, lại thêm mối mọt phá hoại. (Bà) liền mở tâm công đức làm phúc bỏ hết tiền tài, chẳng ngại kinh phí, gỗ đá như núi, thợ thuyền như mây. Đã tạo nhà tiền đường một tòa, lại trùng tu nhà thiêu hương, nhà thượng điện, nhà hậu đường các bên. Bỗng chốc mà nên như cung điện son vàng, tựa lâu đài ngọc bích. (Bà) lại đóng góp đồng tốt, đúc đại hồng chung(12), thực là giữa trời âm Kình ngân tiếng(13), vang đại thanh để giác ngộ kẻ tối ngu. Thế là tiên cung pháp khí đầy đủ hoàn toàn. Lại hậu ban thêm tiền đồng, ruộng mẫu. Cùng một lúc mà việc thiện duyên viên mãn. Hai ấp dân từ đây thờ Thánh có nơi, cầu phúc có chốn. Trai gái trẻ già, ai là không ngước mắt ngóng trông, ai là không ngửa lòng kính mộ. Bèn truyền nhau rằng:

Cứ ngỡ Phật trên trời Đâu Suất(14), Ai hay ấp ta đây cũng có Phật ấy giáng sinh! .

Mới biết núi chẳng phải vì cao, có tiên thì danh tiếng. Tâm ấy là Phật, Phật ấy tại tâm. Nhân cùng luận bàn, mạo muội xin thỉnh tôn phụngChính phủ thị nội cung tần Trần Thị Đề, hiệuDiệu Đề làm hậu Phật chùa Đại Minh. Nghi lễ thờ phụng theo cách thức thường lệ, để hương hỏa thờ bà được mãi cùng trời đất. Lại hứa một lần mà lòng thề mấy chữ. Những kẻ hậu sinh của hai ấp, làm dân ở đây, phải suy xét chớ quên, phụng thờ chớ bỏ. Nghìn năm như một buổi, muôn thuở giữ một lòng. Dẫu chùa này có cũ nhưng nghi lễ này thủy chung như mới. Dẫu bia này có mòn vạt mà tâm ấy không từng mai một. Được như thế thì ơn trạch của bậc tôn đức(15) còn mãi mãi muôn kiếp trường tồn mà hai ấp dân ta tục nhân phong, được hưởng thăng bình ích lợi, mãi mãi với đất trời; mà TrườngThái các (16) nhật nguyệt rạng ngời. Thế chẳng hay đẹp lắm sao ! nhân xin lời văn làm tựa khắc vào đá cứng để truyền lưu muôn đời. Vậy làm bài minh rằng:

Q tần họ Trần, Quê Thanh tú xuất.

Sủng ái tiêu phòng(17), Tâm miền Đâu Suất(18).

Chùa Minh trùng tu(19), Điện đường kiến trúc.

Lại đúc hồng chung, Thức tỉnh muôn vật.

Tiền cúng làm phúc, Ruộng hiến tế thực.

Dân mộ mẫu từ, Phụng thờ hậu phật.

Lời bầu rõ ràng, Ghi bia cao ngất.

Truyền răn chớ thường, Lời thơ thành thật(20).

Dẫu có muôn năm, Lòng thành nhất nhật.

Ngày lành đầu Đông năm Giáp Tuất, niên hiệu Hoàng triều Chính Hòa thứ 15 (1694) muôn muôn năm.

Tứ Tiến sĩ khoa Ất Sửu, Tri Thị nội Thư tả, Hộ phiên Bồi tụng, Lễ khoa Đô cấp sự trung, Phụng Thiên Thọ Xương Báo Thiên Đoan Phủ soạn(21).

Phật đệ tử Sa di tự Chân Hương, Pháp Bảo hòa thượng trụ trì bái viết.

Mặt 2:

BIA HẬU PHẬT

Hai xã Duyên Trường Hạ Thái huyện Thanh Trì phủ Thường Tín.

Tên họ các bậc chức sắc quan viên thôn trưởng hương trưởng Duyên Trường.

tên

Trần Vinh

Giám sinh(22) Nguyễn Thạc Vọng

Quan viên tử(23) Nguyễn Kế Phương

Quan viên tử Trần Đình Bảo

Giám sinh Phùng Hữu Kính

Sinh đồ(24) chính Tạ Viết Ninh

Xã sử(25) Nguyễn Danh Cao

Xã Nguyễn Tiến Thiện

Quan viên tôn Đặng Đăng Tiến

Sinh đồ Tạ Viết Thọ

Tiền Xã trưởng Nguyễn Nội, Nguyễn Quang Bật

Quan viên Nguyễn Thao, Phùng Tài

Tiền Xã trưởng Phùng Kinh, Tạ Trí Bình

Tiền Xã trưởng Nguyễn Hữu Chí, Phạm Truyên, Đặng Thiên Xuân, Đặng Đức Danh, Tuấn Tài

Tiền Xã trưởng Trần Khắc Nhân, Đặng Thì Tương

Tiền Xã trưởng Đặng Công Chính

Sinh đồ Tiền Xã trưởng Nguyễn Phàn Long

Tiền Xã trưởng Đỗ Đăng Tương, Tạ Phàn Lân

Sinh đồ Tiền Xã trưởng Nguyễn Sinh Lộc, Tạ Viết Nhân, Vi Nho sinh đồ thượng hạ đẳng quan viên thôn trưởngHạ Thái liên danh.

Kê tên

Đỗ Phàn Long

Tiền Xã trưởng Nguyễn Đình Khôi

Xã quan Thủ hợp(26) Đỗ Khắc Dụng

Xã Đỗ Văn Trí

Tiền Xã trưởng Trương Vinh Tiến, Đỗ Văn Hưng, Nguyễn Văn Tín

Tiền Xã trưởng Nguyễn Quan Luân

Sinh đồ Tiền Xã trưởng Trương Điều, Tạ Văn Thường, Hữu Chí

Tiền Xã trưởng Nguyễn Quang Triêu, Trần Văn Khôi

Tiền Xã trưởng Nguyễn Văn Đắc, Đỗ Công Thuần

Tiền Xã trưởng Đỗ Viết Phúc, Đỗ Bế, Đỗ Tiến Thành, Trần Tiến Cường

Tiền Xã trưởng Đinh Công Thành, Nguyễn Khắc Nhượng, Trần Văn Giáo

Cùng ghi danh các vị hương lão trên dưới lớn nhỏ.

Từng nghe rằng: rừng thơm muôn mùi, ắt có cây quý giá. Ấp có mười nhà tất có người trung tín. Nay hai xã nhân dân thấy bà Trần Thị Đề hiệu Diệu Đềcung tần thị nội trong phủ, người xã Thanh Trì trong bản huyện, phát bồ - đề tâm hưng công làm phúc, tu tạo tiền đường lại trùng tu thượng điện, nhà thiêu hương, hậu đường của chùa Đại Minh, nguyêncổ tích danh lam của cả hai . Vậy nhân dân hai xã từ ông Nguyễn Tiến Thiện đến ông Trần Văn Giáo trên dưới lớn nhỏ người người đều ngưỡng mộ, phát tâm hoan hỉ kính bầuTrần Thị Đề hiệu Diệu Đề làm Hậu Phật, để cung kính việc thờ tự, để cầu cho (gương tốt bà) được lưu truyền. Vậy thừa bầu, có ruộng các sở khai dưới đây:

rằng

Giỗ ngày 28/7

Kính phụngPhủ thị nội cung tần Trần Thị Đề làm Hậu Phật.

Mỗi năm hễ đến tiết Thường Tiên(27) và ngày sinh nhật. Nhân dân hai xã đều phải kính lễ.

Khi bà trăm tuổi, thì dân hai xã kính giỗ cơm chay 18 cỗ.

Hứa cho hai ruộng tám mẫu. Các sởđông tây 4 phía bốn mẫu làm việc phụng sự Hậu Phật. Hai mẫu làm giỗ cho các cụ: Hiển khảo Trần Nhất Lang, tên tự Huệ Ninh giỗ ngày 10/9 cỗ chay hai cỗ. Cụ bà, là Hiển tỉ quý thị, tên hiệuTừ Nhân, tên thụyVinh Kính, giỗ ngày 17/4 cỗ chay hai cỗ(28).

Hai mẫu để cho bản tự lo việc cúng phật, và dự cáo ngày giỗ các vị hầu gái, cháu bà là các vị: Trần Thị Bình hiệu Diệu Công, Trần Thị Nỗi, Trần Thị Triêu, Trần Thị Thiểm, Trần Thị Hiểu.

Quan viên hương trưởng 2 xã Duyên Trường Hạ Thái huyện Thanh Trì phủ Thường Tín từ ông Nguyễn Tiến Phổ chí Trần Văn Giáo trên dưới lớn nhỏ, chia phần ruộng chùa cho xã Duyên Trường 2 phần, xã Hạ Thái một phần.

Thường nói rằng triều đình lấy kỉ cương làm pháp tắc, nhân dân lấy kính nhượng làm đầu. Nay hai ngưỡng trông bà Nhũ mẫu dưỡng dục cho Vương tử, là người bản huyện Thanh Trì tên Nguyễn Thị Cẩm hiệu Diệu Thuận Ngọc Thịnh Kim Cương bồ - tát(29), góp sức hưng sùng Phật pháp. Đức của bà thì đức hạnh kiêm toàn; tài của bà thì tài năng cái thế. Hai từ ông Nguyễn Tiến Thiện cho đến ông Trần Văn Giáo trên dưới cùng hưởng ứng kính bầuNguyễn Thị Cẩm hiệu Diệu Thuận làm Hậu Phật, cũng tùy nghi thứ bực phụng sự nối mãi muôn đời, để hưởng phúc đến trường cửu. Vậy nên bầu đặt các thửa ruộng khai dưới đây:

Kính phụngnhũ dưỡng Vương tử, tên là Nguyễn Thị Cẩm hiệu Diệu Thuận Ngọc Thuận Ngọc Thịnh Kim Cương bồ- tát làm Hậu phật được một giỗ ngày 4/12.

Hứa cho hai ruộng 1 mẫu, lại một sào tại chùa làm dự cáo trước ngày.

Khi bà trăm tuổi kính giỗ cỗ chay ba cỗ.

Cho chồng bà là Trần quý công tên tựThuần Đức. Tên thụyĐôn Hậu phủ quân giỗ ngày 11/7 cỗ chay 1 cỗ.

Hiển khảoNguyễn quý công tên tự Phúc Chính.(30)

Con trai Trần quý công tên tự Duệ Đạt tên thụy Minh Mẫn phủ quân(31).

Bia ghi lập ngày 12 tháng 11 năm niên hiệu Hoàng triều Chính Hòa thứ 15 (1694).

Ruộng tại chùa, Hòa thượng lo lấy 2 mẫu 2 sào làm việc phụng sự.

 

Chú thích:

(1) Đại Minh tự chung大明寺鍾.(Bản dịch tư liệu cá nhân)

(2) Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Ất sửu niên hiệu Chính Hòa năm thứ 6 (1685)/ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệđệ tam danh, 1 người: Vũ Thạnhngười phường Báo Thiên huyện Thọ Xương (nay thuộc phường Hàng Vải, quận Hoàn Kiếm, Tp. Hà Nội).

(3) Vũ Công Đạo, người làng Mộ Trạch, Đường An (nay là Bình Giang, Hải Dương). Đỗ Tiến sĩ năm 1659, làm quan dưới các đời chúa Trịnh Tạc. Từng được cử đi sứ Trung Quốc làm Đốc đồngSơn Tây rồi, thăng lên đến Thượng thư Bộ HộCông Đạo còn là một thầy giáo xuất sắc, thu nhận nhiều học trò danh tiếng.

(4) 全越詩錄. A.132/4 Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(5) Từ điền bách khoa thư Việt Nam.

(6) Tiêu phòng: Nơi ở của hoàng hậu các vua đời Hán, đời sau gọi họ nhà vua là "tiêu phòng chi thân" đều là ý ấy cả. Đây nói là bà Trần Thị Đề vào làm cung tần trong chính phủ, được vua sủng ái.

(7) Lân chỉ麟指: tức Móng con Lân, cũng là tên bài thơ trong Kinh Thi. Lân là loài thú không ăn sinh vật, không dẫm lên cỏ xanh, người xưa cho là loài nhân thú, tượng trưng cho đức tính nhân hậu, chỉ người con cháu có tài đức. Kinh Thi có thơ: "Lân chỉ" khen ngợi những người con hay cháu tốt, có tài có đức. Đây ý nói bà Trần Thị Đề làm cung tần trong Chính phủ, được vua yêu chiều, sinh được con hiền như là móng con Lân vậy.

(8) Đông Bình chi trung hiếu東平之忠孝: Điển tích đời Hán, Lưu Vũ dòng dõi vua Hán, là người đôn hậu, trung hiếu, được phong là Tư vương ở đất Đông Bình, luôn có lòng nhớ về kinh sư. Người đời sau dùng điển Đông Bình東平để chỉ người con cháu trong hoàng tộc có lòng trung hiếu, có lòng mong nhớ khôn nguôi.

(9) Bồ đề tâm 菩提心: Lòng Bồ đề tức chỉ Phật tâm, tâm từ bi hỉ xả, gây dựng Phật pháp gọi là tâm Bồ đề.

(10) Thứu Lĩnh 鷲嶺: Núi Thứu Lĩnh nơi đức Phật tu hành đắc đạo. Sau dùng từ Thứu Lĩnh để chỉ đất Phật

(11) Mâu gia 牟家: Mâu tức chỉ Phật Thích Ca Mâu Ni, nhà Mâu cũng nói là nhà Phật vậy; Quan thế 觀世: tức là Quan thế âm, các cụ bà tu hành theo Phật pháp thường lấy gương từ bi tu hành của Quan Thế âm.

(12) Đại hồng chung大洪鍾: Chuông lớn.

(13) Kình âm 鯨音: âm Kình. Kình là 1 loại cá lớn ngoài biển, mỗi khi sóng lớn thường gào thét vùng vẫy như muốn sô bờ để bắt con Bồ lao, là con thú trong truyền thuyết, thường làm treo ở móc chuông, con Bồ lao cũng thét lên rất lớn mỗi khi cá Kình sô lại, nên người đời sau mới dùng hình tượng Kình hay Bồ lao để ví với tiếng chuông.

(14) Đâu Suất兜率: cõi cung trời tối cao thanh tịnh chỉ những bậc tu hành giác ngộ cứu thế gian mới lên được, theo truyền thuyết Phật ngự ở cõi này.

(15) Bậc tôn đức: người có đức cao đáng tôn, đã giúp dân xã dựng chùa. Được dân xã suy tôn là bậc Tôn đức.

(16) Trường - Thái: viết tắt của hai xã Duyên Trường, Hạ Thái, mà cũng là lời cầu mong cho dân hai xã được lâu dài thái bình

(17) Tiêu phòng: Xem chú thích 6.

(18) Đâu Suất兜率: Xem chú thích 14.

(19) Chùa Minh 明寺: tên gọi tắt chùa Đại Minh.

(20) Lời Kinh Thi có nói, sự báo đáp như quà tặng cho nhau cành đào thì báo lại cành mận. Điều ấy là sự thật không sai.

(21) Vũ Thạnh (1664 - ?): là nhà thơ nhà giáo Việt Nam thời , người làng Đan Loan, huyện Đường An, trấn Hải Dương. Tiểu sử và sự nghiệp của Thám hoa Vũ Thạnh chúng tôi giới thiệu ở đầu bài viết.

(22) Giám sinh: Học vị Giám sinh.

(23) Quan viên tử: Tước ăn theo bổng lộc của cha. Cũng như Quan viên tôn, tước ăn theo bổng lộc của ông.

(24) Sinh đồ: Học vị Sinh đồ.

(25) Xã sử: một chức danh thuộc việc trong xã, ngoài ra còn các chức Xã tư.

(26) Thủ hợp cũng là 1 chức danh trong hàng Xã.

(27) Lễ Tường Tiên là lễ Cơm mới, còn gọi là Thường Tân.

(28) Tức là cụ ông cụ bà thân sinh ra bà Trần Thị Đề cũng được phối hưởng cũng giỗ.

(29) Bà Nguyễn Thị Cẩm là nhũ mẫu cho con vua.

(30) Tức cụ ông thân sinh ra bà Nguyễn Thị Cẩm.

(31) Con trai bà Nguyễn Thị Cẩm.

 

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Trịnh Khắc Mạnh: Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam, Nxb. Giáo dục, H. 2006.

2. Toàn Việt thi lục. A.132/4 Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

3. Từ điển bách khoa Việt Nam. Nxb Từ điển bách khoa, 2005.

4. Từ điển Phật học Hán Việt. Nxb. KHXH, H. 1993.

5. Đỗ Văn Ninh: Từ điển chức quan Việt Nam, Nxb. Thanh niên, H. 2005.

6. Phạm Thị Thùy Vinh: Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc... Nxb. VH-TT, H. 2003.

7. Từ điển Nho Phật Đạo. Nxb. Văn học, H. 2001.

8. Trần Kim Anh: Bia hậu Việt Nam - Tài liệu Hán Nôm Phật giáo.

9. Tạ Quang Phát (dịch): Kinh Thi. Nxb. Văn học, H. 2004./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 6 (109) 2011, Tr.69-78)

In