| |
| Vietsciences- Trần Viết Điền 14/11/2009 |
“Bia mộ cũng bị đục xóa gần hết các chữ, nhưng lạ thay, cũng như ở bia mộ Ông Cố, người ra lệnh đục xóa hình như cố ý để lại một số chữ mà qua đó hậu nhân xác định được thân phận người nằm dưới mộ.
Ảnh 39Bản dập bia của ngài Lê Văn Toại.
Đại để hàng bên phải ghi ngày tháng chỉ đục sơ sài một chữ trọng Và qua phân tích cũng như ở ngôi mộ thứ nhất ta biết đây là tấm mộ bia do ngài Tả quân Lê Văn Duyệt là người con hiếu thảo lập cho mẹ mình đã qua đời là bà vợ chánh họ Nguyễn của ông Lê (Văn Toại)”. d- Vua Minh Mạng trị tội Lê Chất: Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim chép: Án Lê Văn Duyệt phát ra năm trước thì năm sau (Bính Thân, 1836) có quan Lại bộ tả thị lang Lê Bá Tú dâng sớ truy hặc Lê Chất phạm những 16 tội. Vua Minh Mạng dụ rằng: ...Lê Chất cùng với Lê Văn Duyệt, dựa nhau làm gian, tội ác đầy chứa, nhổ từng cái tóc mà tính cũng không hết, giả thử bổ áo quan giết thây, cũng không là quá. Song lại nghĩ Chất tội cũng như Duyệt, trước kia Duyệt đã không bổ áo quan giết thây, thì nắm xương khô của Chất nay cũng chẳng màng bắt tội. Vậy cho Tổng đốc Bình Phú Võ Xuân Cẩn san phẳng mộ của hắn, khắc bia dựng lên trên đề to mấy chữ “Chỗ này là nơi Lê Chất phục pháp” để làm gương cho kẻ gian tặc muôn đời. Còn vợ hắn là Lê Thị Sai cùng ở một nhà, dự biết mưu bạn nghịch, xử vào cực hình, cũng là phải, song kẻ đàn bà chẳng cần vội vàng chính pháp. Vậy Lê Thị Sai cùng con là Lê Cẩn, Lê Trương, Lê Thường, Lê Kỵ, đều cải làm trảm giam hậu. Lại tịch biên gia sản, được hơn 12.000 quan tiền, giao tỉnh chứa cả vào kho” Năm1910 khi sở công chánh Hà nội đào quãng đường từ đền Quán Thánh đến phủ Toàn quyền Đông Dương để đặt trụ điện, phát hiện hài cốt của Lê Chất với cân đai, áo mũ hãy còn nguyên vẹn. Lúc bấy giờ, chính quyền sở tại đã cải táng mộ Lê Chất ở bên vườn Bách Thú Hà nội
Ảnh 40Quang cảnh vườn Bách thú Hà Nội, mộ cải táng của Lê Chất ở khu vực này. Trong cuộc điền dã ở Dương Xuân, dựa vào thực trạng công trình kiến trúc, ký ức dân gian…chúng tôi phát hiện hai ngôi mộ của vợ chồng tướng Lê Trung, nhạc gia và nhạc mẫu của Lê Chất. Vì bị nghi làm phản nên Lê Trung và vợ bị Cảnh Thịnh giết năm Mậu Ngọ[1798] (tương truyền bà vợ của Lê Trung là công chúa, con của chúa Nguyễn Phúc Chu). Con rễ của Lê Trung là Lê Chất đã về hàng Nguyễn Vương, lập nhiều công trạng nên vợ chồng Lê Trung mới khỏi tội vào thời Gia Long. Lê Chất đã xây mộ cho nhạc gia, nhạc mẫu rất bề thế…Nhưng khi Lê Chất bị khép tội vào thời Minh Mạng thì hai nấm của hai ngôi mộ bị san bằng. Hiện nay có người thuộc hoàng tộc, nhờ ngoại cảm biết “bà cô cửu đợi”( vợ của Lê Trung, từng bị tùng xẻo) nên đã đắp lại hai nấm…(Chúng tôi sẽ công bố kỹ hơn trong một dịp khác).
Ảnh 41 Mộ của Lê Trung do vợ chồng Lê Chất phụng lập, nấm từng bị cào bằng và mới đắp lại gần đây.
Ảnh 42 Mộ của bà Chất (công chúa của chúa Nguyễn Phúc Chu), do vợ chồng Lê Chất phụng lập, có nấm bị cào bằng và mới được đắp lại. Triều Nguyễn trị tội những trọng phạm thường cào bằng nấm mộ, dựng bia để răn kẻ khác. Nếu phá tan thành bình địa thì không còn di chứng của kẻ tội phạm, không có chỗ để răn đe kẻ gian tặc khác. e-Vua Minh mạng trị tội Ngọc Hân công chúa: Bắc cung hoàng hậu Ngọc Hân mất năm Kỷ Mùi [1799], trong bối cảnh kinh đô Phú Xuân của triều Quang Toản khá rối ren, lo đối phó với tình hình “đất thang mộc Tây Sơn” đang bị Nguyễn Vương Phúc Ánh đánh phá. Các đại thần theo lời trăn trối của tiên đế Quang Trung, muốn dời kinh đô ra Nghệ An. Có khả năng bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền, mẹ của Ngọc Hân, đã dâng sớ lên vua Cảnh Thịnh, xin đưa linh cửu Bắc Cung hoàng hậu về táng ở làng Phù Ninh. Người lo việc đưa linh cửu Ngọc Hân là đô đốc Hài. Khi vua Gia Long thanh toán Tây Sơn, bắt được bà Lê Thị Ngọc Bình, con nuôi bà Chiêu Nghi, vợ của Bảo Hưng Nguyễn Quang Toản, nhà vua quyết định lấy bà Ngọc Bình làm vợ. Vì thế bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền trở thành nhạc mẫu của vua Gia Long. Với vị thế và uy vọng của bà Huyền, hơn nữa chính sách thu phục nhân tâm Bắc Hà của vua Gia long, có khả năng thời Gia Long mộ bà Ngọc Hân chưa từng bị quật. Khoảng năm 1804, tình hình lắng dịu, bà Huyền cho người tìm hài cốt của hai người con của Ngọc Hân, đưa về táng ở bãi Cây Đại làng Phù Ninh. Đến đời vua Minh Mạng, do sự tố giác của người làng Nành, vua Minh Mạng mới cho đào phá toàn bộ hài cốt của ba mẹ con Bắc Cung hoàng hậu Ngọc Hân, xong ném xuống sông.
Ảnh 43 Miếu thờ và liếp mộ (mới sửa lại) của mẹ con Bắc cung hoàng hậu Lê Thị Ngọc Hân ở bãi Cây Đại, làng Nành( Phù Ninh, Bắc Ninh). Số phận ngôi mộ của Ngọc Hân ở làng Nành thời Gia Long có liên quan đến bà Lê Thị Ngọc Bình. Đệ tam cung hoàng hậu Ngọc Bình là nhân vật lịch sử có lá số khá độc đáo. Bà vốn họ Nguyễn, tên là Nguyễn Thị Ân, sinh ở làng Nành, cháu gọi bằng cô của Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền. Bà Chiêu nghi nhận cháu gái Nguyễn Thị Ân làm con nuôi, cải tên Lê Thị Ngọc Bình, cô Ân trở thành em gái của Bắc cung hoàng hậu Ngọc Hân. Vua Quang Toản nối ngôi vua Quang Trung, Lê Thị Ngọc Bình nhập cung và sớm trở thành bà phi mà vua Tây Sơn sũng ái nhất. Năm 1801, vua Quang Toản chạy ra Thăng Long, cải niên hiệu Cảnh Thịnh thành niên hiệu Bảo Hưng, Ngọc Bình càng được vua Quang Toản sũng ái. Khi bị vua Gia Long truy bức, vua Quang Toản chạy trốn trong rừng Phượng Nhãn, chỉ còn bà Ngọc Bình ngồi cùng với mình trên bành voi ngự, Ngọc Bình trở thành hoàng hậu của vua Tây Sơn bại vong và rốt cuộc hai vợ chồng bị quân vua Gia Long bắt. Về Phú Xuân thì vua Quang Toản bị vua Gia Long xử tử, còn bà Ngọc Bình trở thành vợ của vua Gia Long, sinh được hai hoàng tử là Quảng Uy công và Thường Tín vương. Sau khi qua đời bà Ngọc Bình được truy phong Đệ tam cung hoàng hậu của tiên hoàng đế Gia Long. Mộ phần của Đệ tam cung hoàng hậu Ngọc Bình ở xứ Chầm, gần chùa Huyền Không Sơn Thượng. Khi nhà nước giải phóng mặt bằng, mộ bà Ngọc Bình trong diện phải di dời, được bà công chúa Campuchia, cháu ngoại vua Thành Thái về Huế, trực tiếp rửa từng lóng xương của bà Ngọc Bình và cúng tiền xây lăng mới cho bà Ngọc Bình vào tháng 6 năm Mậu Tí [2008].
Ảnh 44 Nấm mộ của bà Lê Thị Ngọc Bình được chừa lại khi san lấp mặt bằng ở Long Hồ. f- Mộ ông nội của Nguyễn Nhạc: Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Văn Mỹ thì ở khu vực có gò Lăng, làng Phú Lạc, Bình Định vẫn còn ngôi mộ của ông nội của vua Thái Đức Nguyễn Nhạc. Mộ không bị san thành bình địa, bia chỉ bị đục một số chữ ( vẫn còn đọc được). Nhà nghiên cứu Huỳnh Văn Mỹ viết:
Ảnh 45 Anh Mai Văn Châu bên nấm mộ cổ được nhiều người cho là mộ của ông nội Tây Sơn tam kiệt ở đồng Lăng, làng Phú Lạc - Ảnh: H.V.MỸ “Cũng từ việc cải tạo đồng ruộng này, người ta đã phát hiện một bia đá khổ lớn bị chôn vùi, cách ngôi mộ cổ chừng 6m về hướng bắc. Chỉ đến khi các cán bộ ở Bảo tàng Quang Trung đến tiếp nhận và cho dịch giải những dòng Hán tự khắc trên bia thì mọi người mới hiểu đây là bia mộ của ông nội Tây Sơn tam kiệt (được khắc dựng năm Kỷ Hợi, 1779, một năm sau khi Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế). Toàn văn tấm bia (được khắc trên đá trắng nhờ, xung quanh khắc hình rồng), được tìm thấy bên cạnh ngôi mộ cổ ở đồng Lăng làng Phú Lạc: "Tuế thứ Kỷ Hợi, trọng xuân, cốc nhật.Việt cố hoàng hiển tổ khảo Cang nghị mưu lược minh triết công chi lăng. Ngự chế" (tạm dịch: Năm Kỷ Hợi, giữa xuân, ngày lành. Lăng mộ của Cang nghị mưu lược minh triết công (tước), ông nội quá cố của vua nước Việt. Nhà vua tạo lập). Những chữ "Việt cố hoàng hiển tổ khảo" bị đục một số nét chính. Phần lớn thành mộ đã bị phá vỡ, còn nấm mộ thì bị kẻ gian đào khoét để tìm của báu. Nếu ngôi mộ trên đây được xác định là của ông nội ba vị thì đây là ngôi mộ duy nhất (cùng bi ký) của dòng tộc nội - ngoại Tây Sơn tam kiệt được tìm thấy…” Nghiên cứu các phần a, b, c, d, e, f cho thấy vua Gia Long, vua Minh Mạng không trị tội kẻ thù một cách thô bạo mà có nghị án, dựa vào pháp luật. Đối với thân nhân đã khuất của tội phạm, không phải là người nhà Tây Sơn, thì chỉ cào bằng nấm mộ, không phá tan thành bình địa lăng mộ mà dựng bia chỉ rõ việc trị tội và nhằm răn đe người khác. 6-Lăng Đan Dương bị quật phá nhưng triều Nguyễn vẫn giữ lại một phần để làm bằng chứng về “tội phúc diệt”của “ ngụy Toản ”đối với triều Thanh: a-Làm mộ giả cho vua Quang Trung ở Linh Đàm, Thăng Long: Sau khi vua Quang Trung băng hà vào năm Nhâm Tí [1792] , các đại thần triều Tây Sơn sớm phò Nguyễn Quang Toản lên ngôi, lấy niên hiệu Cảnh Thịnh và vua trẻ đã cử Ngô Thì Nhậm làm chánh sứ, qua Trung Quốc để báo tang và cầu phong. Vua Thanh đã chứng tỏ sự trọng thị Tiên đế Quang Trung, tạo điều kiện tốt cho sứ bộ Ngô Thì Nhậm, chấp thuận phong Nguyễn Quang Toản làm An Nam quốc vương, cử Tề Bồ Sâm sang lễ điếu vua Quang Trung. Như lệ thường, các phiên thần phải theo điển lễ của thiên triều nhưng triều đình Cảnh Thịnh chỉ chấp thuận trên mặt ngoại giao mà thôi. Để chứng tỏ chủ quyền của Đại Việt, Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản đã làm khác. Trong tấu sớ gửi Thiên triều, Cảnh Thịnh đã báo cáo việc táng Tiên đế Quang Trung ở Thăng Long, để gần Thiên triều như lời trăn trối của vua cha nhưng lại táng tiên đế ở Phú Xuân. Triều đình Cảnh Thịnh đã chọn mộ của một bà phi của chúa Trịnh Cương ở làng Linh Đàm, sửa thành mộ giả của vua Quang Trung. Vua Cảnh Thịnh cử đại thần đón tiếp sứ bộ Tề Bồ Sâm, hướng dẫn sứ bộ nhà Thanh đi vòng vèo, sứ bộ Trung Quốc không chịu, sau đó phía Đại Việt mới đưa họ đến làm lễ ở mộ giả Linh Đàm. Vua nhà Thanh đã tặng một bài thơ khắc bia đá dựng ở mộ ( giả) và tặng thụy TRUNG THUẦN. Viện khảo cổ Việt Nam đã tiến hành khảo sát mộ giả vua Quang Trung (sau khi bị kẻ gian đào trộm) vào mùa đông năm Kỷ Tị [1989], biết được chủ nhân thật của ngôi mộ giả là một bà phi của chúa Trịnh Cương. Trên 200 năm mà “ nhìn lăng đá uy nghiêm đứng sừng sững cách đình làng Linh Đường chừng 300 mét về phía bắc, cách quốc lộ 1A chừng 1 km về phía đông, cửa lăng lại ngoảnh trông về khoảng trời phía nam…”(Nguyễn Quang Ân). Người ta đã giữ lại ngôi mộ giả để làm bằng về tội khi quân đối với Thiên triều.
Ảnh 46 Hiện trường khai quật khảo cổ học ngôi mộ giả của vua Quang Trung ở Linh Đàm.
Ảnh 47 Một số di vật là đồ tùy táng của chủ nhân thật của ngôi mộ.
Ảnh 48 Quang cảnh khu vực hồ Linh Đàm hiện nay. b-Không tế THIÊN, ĐỊA ở một nơi, lại tế làm hai nơi: Về tế THIÊN ĐỊA, lệ ở Trung Quốc và phiên thần luôn tế chung ở ĐÀN NAM GIAO. Đàn Nam Giao có viên đàn tượng trời chồng lên phương đàn tượng đất. Lệ này có từ thời Minh. Minh Thành Tổ từng nói: “ Vua coi TRỜI như cha, ĐẤT như mẹ , tế cha tế mẹ làm hai nơi lòng con sao đành”. Thế nhưng Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản dựng GÒ VIÊN KHÂU ở NÚI BÂN để TẾ TRỜI vào ngày ĐÔNG CHÍ , dựng ĐÀN PHƯƠNG TRẠCH ở CHÙA THIÊN MỤ để TẾ ĐẤT vào ngày HẠ CHÍ. Đây là “trọng tội” đối với Thiên triều Trung Quốc.
Ảnh 50 Các viên đàn của Gò Viên Khâu giữ lại trên 200 năm.
Ảnh 51 Những mảnh gạch bìa mỏng dùng để ốp, lát các viên đàn vẫn còn khá nhiều ở Gò Viên Khâu Tây Sơn, giống gạch bìa ở đàn Phương Trạch Tây sơn và gạch bìa ở lăng Ba Vành.
Ảnh 52 Ảnh vệ tinh, chụp đồi Hà Khê, có chùa Thiên Mụ , từng trở thành ĐÀN PHƯƠNG TRẠCH để Tây Sơn tế ĐẤT vào ngày Hạ Chí ( trái với yêu cầu của thiên triều đối với phiên thần An Nam).
Ảnh 53-US"> Những mảnh gạch bìa mỏng dùng để ốp, lát phương đàn, phát hiện ở Đàn Phương Trạch của Tây Sơn ở Phú Xuân.
Ảnh 54Môtíp rồng Tây Sơn trên tảng đá cắm cờ ở Đàn Phương Trạch của Tây Sơn ở Huế. Trong bài thơ “ Phỏng Thiên Mụ tự chỉ tác” (Thăm nền cũ chùa Linh Mụ), phần nguyên dẫn, Phan Huy Ích viết : “ Mùa đông năm Bính Thìn [1793] tôi vâng mệnh đi công cán ở Phú Xuân, từng qua vãn cảnh thăm chùa. Trước đây quan quân triệt bỏ các nền chùa cũ. Mùa xuân đem chiếc khánh quí bỏ vào trong điện, nền chùa còn lại thì san đi để đắp đàn , ngày Hạ chí vua ra tế thần đất thấy còn lại một tòa Phật đường làm nơi vua ngự.Ngoài ra nào điện , nào am đều đổ nát không còn gì, chỉ còn tấm bia đá rêu phong đứngsừng sững bên đường cái”( Thơ văn Phan Huy Ích , tập II, nxb KHXH , Hà Nội,tr. 118). Trong bài thuyết “Liên Hạ Thi Minh” do Ngô Thì Nhậm viết năm 1800 có đoạn :“ Tới ngày Hạ chí tôi hộ giá đến đàn Phương Trạch…”( Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, quyển II, nxb KHXH, Hà Nội , 1978, tr. 226) . Và Lâm Giang thuộc Viện nghiên cứu Hán Nôm từng cho biết trong tập “Thu Cận Dương Ngôn” Ngô Thời Nhậm có bài thơ Đàn Nam Giao ( Hữu sở tư-kỳ thất) , Đàn Phương Trạch( Hữu sở tư- kỳ bát) ( Di sản Hán Nôm Huế, Trung tâm BTDT cố đô Huế- ĐH KHXHN &NV-ĐH QG Hà Nội, Huế 2003, tr . 159). Đàn Nam Giao Tây Sơn ở Huế là Gò Viên Khâu được dựng trên núi Bân, gần Ngự Bình. Khi chạy ra Thăng Long năm Tân Dậu [1801] , Nguyễn Quang Toản vẫn dựng Đàn Phương Trạch và Gò Viên Khâu ở hai nơi khác nhau như từng làm ở kinh đô Phú Xuân. Phạm Đình Hổ chép : “ Mùa hạ năm Tân Dậu [1801], vua Thiếu chủ đời Tây Sơn phải bỏ Phú Xuân chạy ra Bắc thành và đổi Bắc thành thành Kinh Bắc, cho đắp gò Viên Khâu ở ngoài cửa Liễu Thị, xây đàn Phương Trạch ở bên Tây Hồ , chuẩn định cứ đến ngày Đông chí, Hạ chí thì tế Thiên, Địa…)( Phạm Đình Hổ, Vũ trung tùy bút, bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến , nxb Văn Hóa , Hà Nội , 1960, tr. 58). Việc làm này là bằng chứng triều Tây Sơn đã không theo điển lễ của Thiên triều, tất nhiên đây là tội phúc diệt của Tây Sơn vậy.c-Chính sách ngoại giao khôn khéo của vua Gia Long để tước ấn “AN NAM QUỐC VƯƠNG” của Nguyễn Quang Toản: Nguyễn Vương bất ngờ đánh chiếm Phú Xuân vào tháng 5 năm 1801, Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản vội vàng chạy ra bắc, không kịp mang theo ấn An Nam Quốc Vương do nhà Thanh ban, cùng sách phong và các ấn khác. Nguyễn Vương Phúc Ánh vào thành Phú Xuân , bắt nhiều tù binh và đã khoan hồng nhiều binh tướng của Tây Sơn , thu dụng và biên chế vào đội ngũ quân đội của mình. Nguyễn Ánh sớm ổn định tình hình cựu đô và lên ngôi, lấy niên hiệu Gia Long, tế cáo trời đất ở làng An Ninh. Ngay từ khi còn đứng chân ở Gia Định, Nguyễn Vương đã khéo léo tiến hành chiến đấu với Tây Sơn trên mặt trận ngoại giao. Biết Tây Sơn dung túng bọn cướp biển Tề Ngôi, nên mỗi khi bắt được bọn này thì Nguyễn Vương cử sứ giả mang nộp cho Trung Quốc. Dưới thời vua Càn Long, do tin dùng các tín thần như Hòa Khôn, Phúc Khang An nên Tây Sơn đã khéo léo ngoại giao với triều Thanh qua Phúc Khang An, kết quả vua Quang Trung được vua Càn Long trọng thị.
Ảnh 55 Hoàng đế Quang Trung của Đại Việt. Thời vua Càn Long, bọn Phúc Khang An, Hòa Khôn giỏi che mắt vua già Càn Long trong việc ngoại giao với Tây Sơn. Vua Càn Long trọng thị vua Quang Trung thực lòng và bọn Hòa Khôn, Phúc Khang An tha hồ hưởng lợi. Việc này có ông hoàng tử thứ mười một biết được, rất hận Hòa Khôn, Phúc Khang An và Tây Sơn
Ảnh 57 Hoàng đế Gia Khánh nhà Thanh, thời còn hoàng tử và khi đã nối ngôi rất căm thù Hòa Khôn và các vua Tây Sơn. Sau khi viên Tổng binh Tàu Ô Trần Thiêm Bảo đầu thú, nạp cả sắc phong do vua Quang Trung ban cho. Đọc sắc phong này, vua Gia Khánh phẫn nộ, dùng những lời nặng nề miệt thị vua Quang Trung:Ngày 14 tháng Một năm Gia Khánh năm thứ 6 [19/12/1801] Dụ các Quân Cơ Đại thần: Bọn Cát Khánh tâu “Cướp biển Trần Thiêm Bảo mang cả gia quyến đầu thú, lại trình nạp sắc ấn của An Nam cấp cho.” Tấu triệp xưng “Trần Thiêm Bảo nhân đánh cá gặp bão, vào năm Càn Long thứ 48 [1783 ] bị Nguyễn Quang Bình bắt, phong chức Tổng binh v.v…”; có thể thấy trong nhiều năm hải tặc quấy phá đều do An Nam chứa chấp gây ra. Lúc Nguyễn Quang Bình còn sống, bắt người của nội địa, gia phong ngụy tước hiệu, rồi tung ra biển cướp phá. Nguyễn Quang Bình đích thân chịu ơn nặng của Hoàng khảo, làm việc táng tận lương tâm, thực không đáng là con người. Nay duyệt lại tờ ngụy chiếu của viên Quốc vương này có câu “Thị thiên hạ như nhất gia, tứ hải như nhất nhân” [Coi thiên hạ như một nhà, bốn biển như một người]; thật thuộc vào loại ếch ngồi đáy giếng, giống như nước Dạ Lang ngu dốt tự cho mình là to lớn! [Dạ Lang tự đại] …” Nắm được tình hình ngoại giao giữa Tây Sơn và Đại Thanh, khi đánh chiếm Phú Xuân và sau đó lên ngôi, vua Gia Long đã cử sứ bộ Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Hoàng Ngọc Uẩn qua Trung Quốc dâng sớ tố cáo tội ác của Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản, dâng nạp ấn tín sách phong mà Cảnh Thịnh để lại Phú Xuân, dâng nạp bọn giặc Mạc Quang Phù mà Tây Sơn từng dung túng để quấy phá miền duyên hải Trung Quốc. Đường lối ngoại giao khôn khéo này làm vừa lòng vua Thanh và triều Thanh đã không cất quân sang cứu viện Bảo Hưng Nguyễn Quang Toản ở Thăng Long. Vua nhà Thanh ra dụ khen ngợi và nói thêm tội phúc diệt của nhà Tây Sơn; tội ấy chắc chắn là tội tổ chức Quang Trung giả sang triều kiến Càn Long, không theo điển lễ của Triều Thanh, cũng như tội nói dối về việc an táng tiên đế Quang Trung. Sau khi thanh toán Cảnh Thịnh, vua Gia Long cử sứ bộ Lê Quang Định, Nguyễn Gia Cát sang Thanh cầu phong và đặt quốc hiệu.Vua Thanh từng ra chỉ dụ nói rõ về “ tội phúc diệt” của Nguyễn Quang Toản. Xin trích một đoạn trong dụ mà vua Gia Khánh từng gửi cho vua Gia long: “ Đại Thanh Hoàng đế sắc dụ cho Quốc vương Việt Nam Nguyễn…Trước đây Trẫm coi tờ biểu của ông trình bày gốc ngọn về việc chiến tranh ở An nam là vì muốn phục thù cho đời trước, và đã kính cẩn sai kẻ bồi thiêm đệ giao sắc ấn của Nguyễn Quang Toản bỏ sót lại, cùng là bắt trói bọn cướp bể đem hiến để xin mệnh lệnh. Trẫm thấy vượt bể sang dâng tấm lòng thành, nên đặc biệt khen ngợi thâu nhận, và đã ban dụ nói rõ duyên do về việc Nguyễn Quang Toản ở An nam mắc tội phúc diệt, cùng việc ông một niềm cung thuận gắng sức, để trước tuyên cáo cho trong ngoài đều biết…”(Bửu Cầm dịch và công bố ). Vì thế vua Gia Long phải để lại một phần GÒ VIÊN KHÂU, ĐÀN PHƯƠNG TRẠCH, ĐAN DƯƠNG LĂNG , MỘ GIẢ LINH ĐÀM để làm bằng chứng về tội khi quân của Quang Toản đối với thiên triều. GÒ VIÊN KHÂU, ĐÀN PHƯƠNG TRẠCH, MỘ GIẢ LINH ĐÀM trên 200 năm vẫn còn dấu tích khá rõ, vậy thì ĐAN DƯƠNG LĂNG phải còn tối thiểu một số cấu kiện để răn đe kẻ khác, chứ không thể xóa sạch như định kiến của một số nhà nghiên cứu ở Huế khi đi tìm Đan Dương Lăng . Tuy nhiên, vì sự trả thù quá ư khủng khiếp của vua Gia Long đối với những nhân vật chóp bu của triều Tây Sơn, gây cho chúng ta một định kiến; rằng cái gì thuộc về triều Tây Sơn đều bị triều Nguyễn cũng phá sạch, giết sạch. Có như thế không? Thực ra vua Gia Long đã tha bổng nhiều người, các đại thần hàng văn như Phan Huy Ích, Đoàn Nguyễn Tuấn… được tha, Ngô Thế Lân có gắn bó với Tây Sơn cũng được tha, các quan văn đều cho về quê nhà, các con cháu của những ai từng cọng tác với Tây Sơn như Ngô Kim Lân, Ngô Kim Thanh… vẫn được trọng dụng. Các chuông đồng đuợc đúc thời Cảnh Thịnh, chỉ bị đục niên hiệu, chứ không nấu chảy hết, ngay đến công trình kiến trúc tiêu biểu của Tây Sơn là gò Viên Khâu, trên núi Bân, cũng bị phá chiếu lệ, vẫn còn hình dạng của ba đàn tròn chồng lên nhau, để làm bằng chứng về tội của ngụy triều Tây Sơn với Thanh triều. Ngay mộ giả ở Linh Đàm ( Thăng Long) vẫn được giữ lại cho đến nay… Định kiến trên từng gây khó khăn khi nghiên cứu về Tây Sơn. Vậy chúng ta hy vọng vẫn còn những di vật, di chứng của Đan Dương lăng như Gò Viên Khâu của Tây Sơn (núi Bân), mộ giả Linh Đàm. B-LĂNG BA VÀNH BỊ QUẬT PHÁ, TRỊ TỘI, BỊ YỂM. 1- Lăng Ba Vành bị quật phá nặng nề nhưng đúng bài bản pháp luật:
a-p; a-Tân nguyệt trì bị phá: Căn cứ vào lượng đá trái nằm ở bờ tân nguyệt trì, trước cổng tam quan cho thấy ngày xưa tân nguyệt trì có bờ kè đá, lòng hồ cũng được lát đá và tất nhiên có lan can thấp quanh hồ. Nhiều người lớn tuổi của làng Cư Chánh đều cho biết hồ trước lăng Ba Vành có đáy lát đá và nước trong xanh. Người lớn dặn dò người trẻ đừng tắm ở hồ ấy vì hồ của lăng cổ. Hiện nay tân nguyệt trì vẫn còn dấu vết của những bậc cấp xây bằng đá dẫn xuống hồ…Tất nhiên tân nguyệt trì từng bị phá để trị tội, nhưng vẫn bảo lưu hình dạng “tân nguyệt” (biểu tượng lăng vua) để chứng tỏ sự tiếm ngụy vậy. Ảnh 58 Ảnh chụp tân nguyệt trì của lăng Ba Vành khi có nước nhìn từ hông phải. b.Cổng tam quan bị giựt sập, các biểu trưng lăng bị xóa: Cổng tam quan, chứng tỏ lăng vua, của lăng Ba Vành bị giựt sập hoàn toàn. Cổng này từng có một tảng đá có khắc tên hiệu của lăng, khắc theo lối chữ triện, đã bị đục xóa tỉ mỉ. Lại có ba tảng đá dài vừa làm lăng tô cho ba cửa vừa làm phông của ba bức phù điêu đắp nổi trên mặt đá. Bốn trụ được xây bằng đá lớn, nhưng vòm cổng xây bằng gạch bìa 14x22x3 cm, gạch múi bưởi, gạch vuông 20x20x 5cm không nung mà chỉ ép lực . Chắc chắn trên cùng của cổng tam quan có đắp nổi hai đầu rồng chầu mặt trời. Hiện nay chỉ còn hai trụ hai bên đã bị phá đầu trụ nhưng vẫn còn dấu vết bản lề của cửa lăng. Hai trụ giữa bị xóa sạch chỉ còn dấu vết móng trụ.
Ảnh 59 Cổng tam quan sau khi phát quang, phát lộ dấu vết của hai móng của hai trụ giữa, chứng tỏ cổng tam quan bị tàn phá nặng nề.
Ảnh 60 Ảnh chụp một đầu trụ trong trạng huống “dậu đổ bìm leo”
Ảnh 61 Ảnh chụp má trụ ngoài bên trái, từ trong lăng nhìn ra, còn dấu vết của bản lề của cửa lăng.
Ảnh 62 Má trong trụ phải, còn dấu vết bản lề và bậu cửa.
Ảnh 63 Tảng đã xanh từng có khắc tên lăng, bị đục nát không còn đọc được, nhưng có thể biết được tên lăng từng được khắc theo lối chữ triện.
Ảnh 64 Ảnh chụp tảng đá có đắp nổi phù điêu bằng vôi vữa, dấu vôi vuông vắn của đường viền vẫn còn.
Ảnh 65 Ảnh chụp tảng đá dài làm lăng tô của cổng tam quan của lăng. c. Sân chầu, chiếm nửa mặt bằng của bửu thành lăng Ba Vành, bị tàn phá do con người và do thời gian. Sân chầu cùng bái đình chiếm gần nửa bình đồ của lăng Ba Vành, tính từ cổng tam quan của lăng đến móng của bình phong. Sân chầu còn dấu vết của gạch bìa mỏng, chứng tỏ sân chầu vừa có lát gạch, đá trên lối đi và có chỗ trồng cỏ, hoa. Trừ hoa dại, trong lăng còn di chứng hoa trang đỏ. Một phần của sân chầu bị chiếm bởi ngôi mộ giả của Hộ bộ kiêm Binh bộ Lê Quang Đại, mà chúng tôi sẽ lý giải trong bài viết sau.
d.Bình phong tiền bị đập phá, đến năm 1960 vẫn còn nền móng Các cụ già ở làng Cư Chánh từng vào lăng Ba Vành săn bắn trong khoảng 1940-1960 vẫn còn thấy một bình phong tiền khá cao và rộng, chưa có ngôi mộ giả. Hiện nay không còn bình phong tiền nữa, nhưng ngôi mộ giả của Lê Quang Đại được dựng bằng đá và gạch của bình phong tiền.
Uynh thành trong bên trái, nhìn từ trong của lăng, ban đầu là con cù dậy hoặc rồng lá cách điệu, bị “chém đầu”. Nhưng nửa uynh thành còn lại, bên phải nhìn từ trong lăng, là một con cù dậy hay rồng cách điệu, được giữ nguyên như một bằng chứng về tội “ tiếm ngụy”. Uynh thành thứ nhì cơ bản được giữ nguyên, hai đầu uynh có 4 bức phù điêu đắp nổi 4 con rồng cách điệu. Tuy nhiên uynh thành này cũng bị cắt phía trái một đoạn. Uynh thành ngoài là hai con rồng mà hai đầu rồng tì trên 4 trụ của cổng tam quan. Đầu rồng bị phá hoàn toàn và con rồng bên trái cũng bị chém ngang lưng. Như thế cả ba uynh thành của lăng đều bị phá theo kiểu trị tội chứ không xóa sạch. g. Nấm mai rùa: Mộ có nấm mai rùa thuộc loai quí hiếm, thường không có chủ nhân. Khi phát hiện được chủ nhân của những ngôi mộ có nấm mai rùa thì họ thường là phụ mẫu của các quan Tây Sơn khi còn phục vụ triều Tây Sơn hoặc khi đã về hàng vua Gia Long. Lăng Ba Vành có nấm mai rùa bị bạt một góc trái theo lối trãm để trị tội. Một số nhà nghiên cứu bị nhầm lẫn khi cho rằng nấm mai rùa bị quật để kéo quan tài ra khỏi mộ. Thực ra khi ninh lăng hay lấy quan tài ra khỏi mộ, người ta đều dùng đường toại đạo ( đường hầm).
i.Nhà bia có đế chữ thập, mái che lợp ngói và tôn trí bia thờ. Nhà bia chứa bia thờ hoàn toàn bị triệt giải, chỉ còn nền nhà bia có đế chữ thập. Năm 1986, nền đủ 4 góc vuông khuyết, rõ ràng bình đồ của nền là chữ thập. Mái che không còn nhưng chúng tôi phát hiện nhiều mảnh ngói liệt quanh nền nhà bia. Vẫn còn mảnh pha lê của đồ tự khí và bia thờ bị đục nát, dấu vết của việc cắt đầu bia, tai bia vẫn còn. Hiện nay bia này được bảo tàng Huế lưu giữ trong kho .
Ảnh 71 Ảnh chụp nền nhà bia đã bị phá nát.
Ảnh 72 Nhà bia vẫn còn dấu vết của nền chữ thập.
Ảnh 73 Di vật ngói và gạch là bằng chứng nhà bia có mái che.
Ảnh 74 Vật liệu xây dựng nhà bia gồm có đá, gạch, ngói. Như thế tấm bia nằm trên đường thần đạo, trước nấm mai rùa, sau bình phong tiền, bằng đá granit là bia phụng lập. Bia này trước đây ở liếp trên, gần nấm mai rùa, hiện nay được kéo xuống ở liếp dưới và bị đổ nghiêng về phía trước.k- Nhà hộ lăng : Khi Đan Viện Thiên An được thành lập thì vườn cam Thiên An sau đó cũng hình thành. Nhà quản vụ vườn cam được dựng trên một nền móng cũ của nhà hộ lăng của lăng Ba Vành và lăng bà Tả Cung họ Phạm (thân mẫu của vua Cảnh Thịnh). Hiện nay trong sân của nhà quản vụ vườn cam của đan viện Thiên An còn lưu giữ nhiều đá kê cột, đá lát nền, một cái cối đá, nhiều chậu cảnh bằng đá rất cổ và một giếng cổ. Đặc biệt trong vườn cam còn nhiều mảnh gạch rất giống gạch bìa của lăng Ba Vành. Như thế lăng Ba Vành có nhà hộ lăng đã bị triệt hạ.
Ảnh 77 Ảnh chụp các viên đá kê cột của nhà hộ lăng còn lưu giữ ở nhà quản vụ vườn cam của đan viện Thiên An.
2- Lăng Ba Vành còn những ấn chứng trị tội tiếm ngụy của chủ nhân và người phụng lập. a-Ấn chứng trị tội trên bia phụng lập: Trong bài viết trước chúng tôi đã làm rõ chức năng của hai cái bia ở lăng Ba Vành. Và nếu lăng Ba Vành là Đan Dương lăng của vua Quang Trung thì “số phận” của hai bia, dưới góc độ ngôi lăng bị trị tội, như sau : Bia thờ: Bia nguyên thủy không còn nữa, nhưng các bô lão của làng Cư Chánh (xưa là Cư Hóa) đều kể lại sự kiện quan trọng; rằng khi chưa có lăng Hiếu Đông (mẹ vua Thiệu Trị), lăng vua Thiệu Trị, lăng bà Từ Giũ, lăng bà vợ đầu vua Thiệu Trị thì khi xây dựng lăng Ba Vành, người xưa tạo tác bia thờ ở chỗ khác. Người xưa đã cho voi kéo bia thờ thuộc vào loại lớn, chân bia dài. Ngang ngã ba thuộc làng Cư Hóa, voi rống to và không chịu kéo nữa, dẫu nài voi đã cố điều khiển. Người xưa quyết định hớt bớt chân bia để làm phép hoặc đỡ vướng. Khúc chân bia bằng đá để lại bên vệ đường gần ngã ba. Dân sở tại thường xuyên thắp hương để thờ tảng đá thần này. Về sau làng Cư Hóa lập miếu thờ. Hiện nay miếu đã dời vào vài mét, gạch xây miếu vẫn còn xếp một đống, tảng đá thần vẫn còn. Cụ Nguyễn Ngọc Tiên thuộc chánh hệ của An Ninh Bá Nguyễn Ngọc Huyên kể chuyện này. Như vậy bia thờ và nhà bia thờ hoàn toàn bị phá hủy bởi tận pháp trừng trị.
Ảnh 78 Bia thờ đã bị băm nát các văn khắc chữ Hán, đầu, chân, tai, hông bia dã bị đục bỏ về sau kẻ gian khắc thêm 4 chữ “SƠN NHẠC CHUNG LINH” để làm bia thờ thổ của ngôi mộ giả.
Ảnh 79 Một phần chân bia thờ của lăng Ba Vành bị cắt bớt, để lại bên vệ đường thuộc làng Cư Hóa. Dân sở tại liền lập miếu thờ từ 1793 cho đến nay ( ký ức dân gian về miếu thờ đá này này do cụ Nguyễn Ngọc Tiên của làng Cư Chánh kể). Cái bia nhỏ có hai mặt, một mặt bị băm nát, thô tháp, nhưng một mặt có khắc bốn chữ Hán rất đẹp: “SƠN NHẠC CHUNG LINH”. Chúng tôi phát hiện một dấu hiệu đáng ngờ trên tấm bia này. Tại sao khắc 4 chữ đại tự đẹp mà khung chữ nhật được viền chung quanh thì quá vụng về. Người khắc chỉ viền ba phía, còn một phía để trống. Hơn nữa, bia này lại đặt trong nhà bia có nền chữ thập, đắp bằng vôi vữa. Nơi đây chúng tôi phát hiện nhiều cục than to, nằm trong kẻ nứt của nền… dẫn chúng tôi đi đến một giả thuyết công tác khảo cổ: Bia này mới là bia thờ của chủ nhân ngôi mộ, có minh văn với nhiều chữ Hán được khắc. Vì vậy bia đã bị băm nát, cắt đầu triệu, gọt tai bia, hủy đế bia… còn 4 chữ Sơn Nhạc Chung Linh là do kẻ gian, có tổ chức, mới khắc sau này để biến nó thành bia thờ thổ thần của mộ giả của Lê Quang Đại. Người thiết kế lăng Ba Vành không thể tạc một cái bia, văn khắc thì hay, đẹp, mà tạo dáng cái bia, dù bia thờ thổ thần, quá ư cẩu thả! Với góc nhìn phong thủy và đăng đối dịch lý, chúng tôi tin rằng bia này nguyên thủy là bia thờ, đai diện cho linh hồn chủ nhân ngôi mộ. Khi đoàn khảo sát của Nguyễn Thiệu Lâu đến thực địa lăng Ba Vành, bia này đã bị phá nát, giống như một tảng đá, không có văn khắc. Nếu có 4 chữ “SƠN NHẠC CHUNG LINH” to và đẹp thì ông hay học trò ông đã phát hiện. Chi tiết này cho phép chúng tôi khẳng định, 4 chữ ấy là do kẻ gian mới cho khắc nhằm mục đích làm sai ý đồ thiết kế của ngôi lăng.-Bia ghi năm phụng lập : Nếu bia thờ và nhà bia thờ ở bên trái nấm mộ mai rùa thì bia ghi năm phụng lập được dựng trước nấm mộ.
Tôi: Sau cửa mở vào, có một cái bia to. Bia này bằng đá dày, rắn lắm. Anh nào khá chữ Hán, thử cố đọc mà xem. Mấy anh xúm xít lai đọc. Họ lấy khăn chùi bia. Họ chẳng đọc được chữ gì cả. Một anh: Bia này mòn. Tôi: Anh nhìn kỹ đi. Bia này không thể mòn được một cách nhanh chóng vì chất đá rắn lắm. Anh nhìn kỹ xem. Các chữ khắc sâu ở trong bia đã bị các nhát búa rấp đi. Vết các nhát búa đó vẫn còn, tuy bia ở ngoài trời, chịu mưa chịu nắng không biết đã từ bao nhiêu năm rồi.” Năm 1986, chúng tôi đã cạo rữa lớp rêu trên mặt bia thì phát hiện ở góc trái phía trên chữ « LA » và dòng lạc khoản bên phải « NHÂM TUẤT MẠNH ĐÔNG »(Tháng 11năm Nhâm Tuất[1802] ». Góc phải của bia bị bạt và trên mặt cắt, sau khi bạt, người xưa đã đục chìm lưỡi đao. Dòng ở giữa bị đục sâu, chữ « LA » với ý nghĩa « BẮT ĐƯỢC », bạt góc và lưỡi đao là biểu tượng trãm quyết và ghi năm tháng trị tội đúng năm tháng vua Gia Long làm lễ Hiến Phù nhằm tận pháp trừng trị nhà Tây Sơn. Còn chữ « PHÚ » khắc trên đầu chữ « NHÂM », cố ngang hàng chữ LA và dòng lạc khoản bên trái , phía dưới, « TỰ TÔN VÕ BÁ ĐẠM PHỤNG LẬP » là do kẻ gian thêm vào sau này để đánh lạc hướng( chúng tôi sẽ lý giải trong bài tới).
Ảnh 84 Ảnh chụp phần bên trái của lăng bị quật phá để trị tội. Việc quật phá nêu ở phần I nói trên là một bằng chứng về trị tội của vua Gia Long đối với lăng vua Quang Trung. Nhưng bằng chứng rõ ràng nhất, thuyết phục nhất là vết đục mới và văn tự mới khắc trên bia phụng lập. b-Vòng xích đắp bằng vôi mật trên nấm mai rùa:
Như chúng ta đã biết, vua Gia Long đã cầm tù ba đầu lâu của ba tiếm vương trong ba cái vò, có xích sắt và bùa chú để làm phép thì trên nấm mai rùa ở lăng Ba Vành người xưa cho đắp nổi một sợi xích bằng vôi mật, hiện nay vẫn còn dấu vết khá rõ.
Ảnh 85 Nấm mai rùa ở lăng Ba Vành, vẫn còn những vết vôi màu trắng của vòng xích . Khoảng năm 1960 vòng xích quấn trên nấm mai rùa vẫn còn. Các cụ Châu Mậu, Trần Phương ở Ngũ Tây, thời trẻ đi săn, vào lăng Ba Vành vẫn còn thấy vòng xích bằng đắp bằng vôi mật, vắt ngang trên nấm mai rùa. Các cụ đã làm chứng về việc này và đã làm đơn xác nhận có công chứng.
Ảnh 86 Các cụ Trần Phương và Châu Mậu đứng bên nấm mai rùa ở lăng Ba Vành, làm chứng vệ sự tồn tại của sợi xích đắp nổi bằng vôi mật đến 1961.
3-Những dấu hiệu lăng Ba Vành bị trấn yểm: a-Đôi nét về trấn yểm theo thuật phong thủy : Người xưa và thậm chí hiện nay thường tin vào thuật phong thủy. Trong thuật phong thủy có phép tránh họa bằng bùa chú trấn yểm . Ở Việt Nam và Trung quốc thuật phong thủy về cơ bản là giống nhau. Trong sách “Bí ẩn của phong thủy”( Vương Ngọc Đức, Nhân Dân Quảng Tây xuất bản xã, 1993) do Trần Đình Hiến dịch từ nguyên bản tiếng Trung, có đoạn: “ Phép tránh tai họa:Trong thuật tướng địa, đặc biệt là về âm trạch, nếu có triệu chứng hung họa, hoặc đã xảy ra chuyện không hay, các thầy phong thủy thường có một số biện pháp cứu vãn, biến hiểm nguy thành yên ổn, biến hung thành cát. Cảnh Tín đời Bắc Chu, tại “Cảnh tử sơn tập”-“Tiểu viên phú”: “ Dùng mai thạch trấn trạch thần, dùng gương soi trấn sơn tinh”. “Thạch” và “kính”(gương) ở đây dùng để tránh tai họa… Thông thường là dùng bùa yểm. Nghe nói người phát minh ra “phù”(bùa)là Hoàng công Thạch, vẽ bùa lên thân cây đào, mận, hạnh, hoặc vẽ bùa trên giấy đeo vào người, hoặc treo trước nhà, hoặc để trong nhà, hoặc chôn dưới đất, để trừ họa…”(s đ d, tr. 538).
Ảnh 89 Bùa Trấn Trạch ( ảnh TGVH).
Ảnh 90 Bùa Trấn Trạch Luong Huu Thuong (Theo Khongtu.com)
Ảnh 91 Hóa cốt phù Sách “Phong thủy địa lý Tả Ao”,Tập II, do tác giả Vương Thị Nhị Mười soạn, nhà xuất bản Cà Mau, 2006 có thuật việc vua Đường lệnh cho Cao Biền xem xét phong thủy nước ta và tìm cách trấn yểm: “ Cách đây 1200 năm vua Đường Trung Tông phong Cao Biền làm An Nam Đô Hộ Sứ sang cai trị nước ta. Trước khi Cao Biền đi nhà vua cho triệu vào ngự điện nhắn nhủ: Khanh học địa lý tối vi linh diệu, trẫm nghe An Nam có nhiều quý địa kết phát tới Thiên Tử, sản xuất ra nhiều nhân tài, anh kiệt nên luôn luôn nổi lên chống đối ta. Đến nơi, khanh nên tường suy phong thủy kiến lãm sông núi xem xét các đất kết bên đó và làm tờ biểu tấu kèm theo lời diễn ca các kiểu đất bên An Nam gửi về cho trẫm trước. Rồi bên đó khanh đem tài kinh luận, đoạt thần công cải thiên mệnh, trấn áp các kiểu đất lớn đó đi, đó là cách nhổ cỏ thì nhổ cả gốc, để tránh hậu hoạn sau này…”(s đ d, tr.520). Đoạn trích này cho thấy người Việt rất tin phong thủy và các việc đào kênh, mở đường… của Cao Biền đều làm người Việt nghi ngờ y trấn yểm nước ta. Bằng chứng Lý Tế Xuyên khi viết sách “VIỆT ĐIỆN U LINH TẬP” (năm Kỷ Tị, Khai Hựu nguyên niên, 1329) có chép thần Quảng Lợi Thánh Hựu Uy Tế Phu Cảm đại vương, vị thần đã tỏ sức mạnh của mình trước phép thuật của Cao Biền. Người xưa trấn yểm dương cơ âm phần theo phong thủy là chuyện có thật. Xin trích lại nguyên văn bài viết của tác giả Giao Hưởng trên Việt Báo: “Ngôi mộ hợp chất nằm trên tuyến san ủi mặt bằng để làm đường (ven Công viên Biên Hùng) thuộc khóm 3, phường Trung Dũng, TP Biên Hòa vừa được Nhà Bảo tàng tỉnh Đồng Nai tổ chức khai quật. Ở độ sâu 0,5 mét đã chạm phần âm (đáy dưới) của mộ, với lớp hợp chất dày 0,6 mét gồm vôi, cát, mật và than hoạt tính. Đào xuống gần 2 mét thấy mộ trống không. Khảo sát chung quanh, ở phía tây có một ít tóc màu trắng cùng hai miếng kim loại đường kính 2,5 cm - 3 cm, xa hơn tìm thấy đồng tiền với chữ "Đại gia bảo" bên trên. Theo các nhà khảo cổ và cán bộ khai quật, đây là "mộ yểm" không chôn thi hài, chỉ chứa các vật mà thầy pháp xưa kia thường dùng, được đắp với kích thước như ngôi mộ thật, dùng bảo vệ khu lăng mộ của danh nhân Trịnh Hoài Đức và thân tộc chôn gần đó”.
Ảnh 92 Lăng mộ Trịnh Hoài Đức Nhà nghiên cứu Phan Duy Kha thừa nhận lăng mộ Tây Sơn bị triều Nguyễn trấn yểm:
“Chúng ta biết rằng, nhà Nguyễn khi khai quật phá lăng mộ của nhà Tây Sơn đều đào “huyệt yểm” làm cho “đứt long mạch”, làm cho nhà Tây Sơn không thể “ngóc đầu dậy được” (một quan niệm về tâm linh). Ngay mộ tổ 4 đời của Quang Trung ở làng Thái Lão (Hưng Nguyên, Nghệ An) sau khi bị đào bới, quật phá cũng đã bị yểm huyệt, cho đến năm 1978, người ta còn thấy cái “huyệt yểm” đó. Đối với cụ tổ 4 đời còn bị đối xử như thế thì đối với lăng mộ Quang Trung, việc đào huyệt yểm là không thể bỏ qua. Từ những phân tích trên, tôi cho rằng, muốn tìm lăng mộ Quang Trung phải thỏa mãn hai điều kiện: - Lăng mộ phải ở trên đỉnh núi. - Lăng mộ đó sau khi bị quật phá đã bị yểm huyệt.”( * Phan Duy Kha (CAND)” b-Việc trấn yểm ở lăng Ba Vành: Việc quật phá ở lăng Ba Vành về phía tả rất bài bản, có qui tắc hẳn hoi, không tùy tiện, nói lên quyền uy của một hoàng đế xử “tả đao” đối với kẻ “tiếm ngụy”: bia thờ hoàn toàn bị hủy, bia phụng lập thì bị bạt góc trái, hầm chứa đồ tùy táng bị phá nát, con giao long bên trái bị cắt đầu, uynh thành hai bên trái bị chặt ngang lưng, nấm mai rùa bị bạt chéo một phần tư về phía trái, quan tài có thi thể (ướp xác) bị kéo ra khỏi hầm mộ bằng đường toại đạo, nhà bia bị giựt sập... Thế thì những di chứng về việc trấn yểm ở lăng ba vành có hay không? Chữ “LA” trên góc trái phía trên của mặt bia phụng lập, ngoài ý nghĩa “bắt được” còn có chức năng trấn yểm.
Ảnh 93 Chữ “ LA” ở góc trái phía trên mặt bia phụng lập ở lăng Ba Vành( khắc thêm năm 1802) Vết khắc chìm “lưỡi đao” trên mặt cắt khi bạt góa trái bia phụng lập ngoài ý nghĩa “chặt đầu” còn dùng để yểm.
Ảnh 94 Góc trái bia phụng lập bị bạt và đục lưỡi đao vào năm 1802 Ở uynh thành ngoài, mặt trong, có mặt của một tảng đá gần cổng, người xưa đã khắc những nét tượng trưng “phong thủy của lăng Ba Vành” và khắc những vết cắt xéo lên những đường nét biểu trưng “long mạch”.
Ảnh 95 Tảng đá ở gần cổng lăng, ở uynh thành ngoài, khắc “bùa yểm”. Do những người đi đào sắt thép, để lại những hố đào ở minh đường lăng Ba Vành, chúng tôi phát hiện những mảnh vỡ của những cái om bằng gốm cổ. Có khả năng đây là những om chứa những thứ trấn yểm thuộc loại chôn dưới đất với mục đích không cho linh hồn vất vưỡng của tội nhân vào “nhà cũ”.
Ảnh 96 Những om cổ ở lăng Ba Vành. Ở thành ngoài phía trước lại có mặt của một tảng đá, người xưa lại đục 3 vạch song song, tượng quẻ càn, có khả năng là bùa trấn yểm, không cho ngôi lăng của kẻ “tiếm ngụy” chiếu tướng “kinh thành Phú Xuân”. Dẫu sao lăng Ba Vành nằm trên đường thần đạo của kinh thành!
Ảnh 97 Tảng đá ở thành ngoài phía trước của lăng Ba Vành, có khắc quẻ càn. Ở “não đường”, góc trái phía sau của lăng Ba Vành có dấu vết một đường rãnh lớn, đây là huyệt yểm “long mạch” của kẻ “tiếm ngụy”. Và lại có một hố đào khá lớn, thành một cái hồ hình chữ nhật, phải chăng đây là hố đào để trấn yểm lăng Ba Vành?
Ảnh 98 Hồ đào hình chữ nhật và cái rãnh dùng để yểm lăng Ba Vành.
Thay lời kết: Một giả thuyết khoa học được xây dựng trên một số cơ sở nhất định, có thể chưa đủ sức thuyết phục, muốn hoàn thiện nó thì phải tìm thêm tư liệu bổ sung dần dần. Nếu giả thuyết đặt đúng hướng thì khi có thông tin từ những tư liệu mới, những thông tin ấy sẽ phù hợp với giả thuyết, kéo theo độ tin của giả thuyết sẽ tăng dần. Ngược lại, giả thuyết khoa học đã sai hướng thì dễ vấp vấn nạn khi gặp những thông tin mới. Các nhà nghiên cứu tìm kiếm lăng Đan Dương của vua Quang Trung thường đưa ra những tiêu chí như lăng Đan Dương phải ở trên núi, ở nam kinh thành Phú Xuân, nam sông Hương, gần sông Hương, có nhà hộ lăng, có giếng nước để sinh hoạt, bị “tận pháp trừng trị”, bị yểm và tất nhiên kiến trúc phải có những biểu trưng lăng vua và kiểu thức thuộc về triều Tây Sơn.Qua bài viết này và những bài viết trước chúng tôi đã kiểm chứng lăng Ba Vành hội đủ những tiêu chí ấy. Theo tài liệu trong bài viết của cụ Bửu Kế thì lăng Ba Vành có chủ nhân là Hộ Bộ kiêm Binh Bộ Lê Quang Đại và người cháu Lê Xuân ở Đà Nẵng ra Huế cải táng lăng Ba Vành qua Ngự Bình, làng Cư Chánh nghiêm trách dữ dội. Còn nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh thì cho rằng Lê Xuân đã đào trộm mộ Ba Vành để tìm của…Con cháu của chủ nhân ngôi mộ là họ Lê Quang của làng Đồng Di, thuộc hàng thế gia vọng tộc, mộ tổ bề thế bị cải táng trộm, hoặc bị đào trộm mà không một ai hay biết…Những sự kiện đáng ngờ như thế buộc chúng tôi phải điều tra làm rõ, trở lại một vấn đề quan trong: Lăng Ba vành đã bị che giấu chủ nhân thật bằng cách lập hồ sơ giả để thay chủ nhân mới, trong khi chủ nhân mới, giành chỗ chủ nhân thật ( vua Quang Trung) ... lại có mộ thật ở làng Xuân Hòa, gần chùa Thiên Mụ. Những dữ kiện tưởng chừng như rời rạc, không liên quan với nhau mà chúng tôi đã phát hiện trong 23 năm qua sẽ được xâu chuỗi thành một hồ sơ có tên “ Vụ án lịch sử lăng Ba Vành”. Chúng tôi xin được công bố bài viết này kỳ sau. Huế, tháng 10 năm 2009. Trần Viết Điền
© http://vietsciences.free.frr và http://vietsciences.org Trần Viết Điền
|